09:07 ICT Thứ bảy, 19/01/2019

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 2


Hôm nayHôm nay : 65

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 4152

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 512929

Quảng cáo trái

Bo KHCN
VAEC
Cục An toàn bức xạ và Hạt nhân
Tạp chí Hoạt động khoa học

Trang nhất » Tin tức » Tin tức » Tin trong nước

Nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế tại Viện Nghiên cứu hạt nhân - nét khởi sắc đáng ghi nhận

Thứ tư - 12/07/2017 16:08
Viện Nghiên cứu hạt nhân – với những thành tựu đã đạt được trong suốt gần 40 năm qua được đánh giá là con chim đầu đàn hay “cái nôi” của ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam.

 

Viện Nghiên cứu hạt nhân (1984 - 2017)

 

Kể từ khi lò phản ứng hạt nhân được khôi phục, mở rộng và vận hành trở lại (20-3-1984), Viện Nghiên cứu hạt nhân đã có những bước tiến dài trên các mặt: Nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng các kỹ thuật vào thực tiễn, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đào tạo đội ngũ cán bộ.

 

          + Giai đoạn từ 1985-1995: Trong giai đoạn này, vai trò của những cán bộ đầu đàn được thể hiện rất rõ; hướng nghiên cứu cơ bản về vật lý lò phản ứng và vật lý hạt nhân có GS.TS. Phạm Duy Hiển, GS.TS Ngô Quang Huy, TS.Vũ Hải Long (Việt kiều từ Pháp trở về), PGS.TS. Nguyễn Tác Anh, TS. Phạm Ngọc Chưởng. Về lĩnh vực hóa phóng xạ và hóa phân tích có PGS.TS. Nguyễn Mộng Sinh và PGS.TS. Lê Văn Sơ. Về lĩnh vực sinh học có TS. Trần Tích Cảnh, TS. Hà Ngọc Mai, v.v…Chính có những cán bộ được đào tạo hết sức bài bản ở các nước như Liên xô cũ, Đức, Hungari, Tiệp Khắc, Pháp… nên đã giải quyết được nhiều vấn đề về nghiên cứu khoa học ở một cơ sở hạt nhân mới được hình thành. Những đề tài trong giai đoạn này chủ yếu nằm trong chương trình 50A của Nhà nước và một số đề tài cấp Viện nhằm giải quyết hai vấn đề chính:

 

- Đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ, bước đầu nắm bắt được một cách cơ bản các hướng nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học hết sức mới mẻ- Khoa học hạt nhân nhằm thực hiện đúng mục tiêu của lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt-Viện nghiên cứu hạt nhân khi đó là: Huấn luyện (Training), Nghiên cứu (Research) và Sản xuất đồng vị phóng xạ (Isotop Production) - TRI.

 

- Hình thành các nhóm nghiên cứu về vật lý lò phản ứng, vật lý hạt nhân, hóa phóng xạ, hóa bức xạ, sản xuất đồng vị phóng xạ, sinh học phóng xạ, môi trường, an toàn bức xạ và điện tử hạt nhân để có thể triển khai thực hiện các nhiệm vụ lớn hơn trong những năm tiếp theo.

 

Giai đoạn này mặc dù các đề tài nhà nước thuộc chương trình 50A được nghiệm thu xuất sắc, nhưng có rất ít bài báo quốc tế được công bố, kể cả công bố trên các tạp chí khoa học trong nước cũng còn rất hạn chế; mặt khác, hệ thống thông tin còn lạc hậu nên việc đăng tải các công trình thực tế là rất khó khăn.

 

+ Giai đoạn từ 1996-2010: Giai đoạn này, phần đông các cán bộ đã được tuyển dụng từ những năm đầu của giai đoạn khôi phục và mở rộng lò phản ứng được cử đi đào tạo ở nhiều nước thuộc hệ thống của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) cũng như chương trình hợp tác song phương với các nước xã hội chủ nghĩa; mặt khác lại có hơn 15 năm tích lũy kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu khoa học nên đã hình thành những nhóm nghiên cứu khá mạnh, có thể đảm đương được những nhiệm vụ mang tính đột phá; ví dụ như nhóm nghiên cứu về vật lý lò phản ứng có khả năng tính toán neutron và thủy nhiệt lò phản ứng với số liệu tin cậy, được trình bày trong các hội nghị và hội thảo quốc tế và đã được các chuyên gia quốc tế đánh giá cao; nhóm nghiên cứu về vật lý hạt nhân đã hình thành hướng nghiên cứu cơ bản nghiên cứu xác định cấu trúc hạt nhân; hướng nghiên cứu vật lý ứng dụng bao gồm xây dựng các phương pháp phân tích nguyên tố dựa trên các kỹ thuật kích hoạt nơtron trên lò phản ứng (Kỹ thuật đo gamma trễ, đo gamma tức thời, kỹ thuật chiếu lặp vòng, kỹ thuật đo nơtron trễ, kỹ thuật Ko-NAA,v.v.); trong giai đoạn này cũng đã hình thành nhóm nghiên cứu ứng dụng các đồng vị phóng xạ tự nhiên và nhân tạo trong nghiên cứu sự bồi lấp lòng hồ, cửa sông và cảng biển. Phòng Nghiên cứu và Sản xuất đồng vị phóng xạ đã hình thành hai nhóm nghiên cứu. Nhóm thứ nhất thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng quy trình điều chế và sản xuất các đồng vị phóng xạ. Trong suốt giai đoạn này, nhóm đã có thể tự sản xuất và cung ứng đồng vị phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh cho 25 khoa y học hạt nhân tại các bệnh viện trong cả nước, đáp ứng tới 50% nhu cầu (tính đến năm 2010). Nhóm thứ hai thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đánh dấu các đồng vị phóng xạ vào các hợp chất hữu cơ để tổng hợp các dược chất phóng xạ phục vụ cho việc chẩn đoán bệnh bằng hình ảnh. Tính tới 2010, nhóm này đã điều chế và sản xuất được hơn 15 các loại dược chất phóng xạ khác nhau phục vụ cho các khoa y học hạt nhân để chẩn đoán bằng hình ảnh các cơ quan nội tạng như não, tim, gan, phổi, dạ dày, tuyến giáp, v.v…Hướng phân tích đã hình thành một Trung tâm phân tích đồng bộ bên cạnh lò phản ứng có khả năng phân tích gần như đầy đủ nhu cầu của khách hàng (các nguyên tố vô cơ, các hợp chất hữu cơ, các chỉ tiêu vi sinh, v.v..). Ngoài các hướng nêu trên, một số hướng khác như hướng nghiên cứu về môi trường, an toàn bức xạ, điện tử hạt nhân, sinh học phóng xạ cũng gặt hái được những thành tựu đáng ghi nhận.

 

Trong giai đoạn này nhiều đề tài độc lập cấp nhà nước, cấp Bộ, cấp cơ sở cũng đã được thực hiện. Việc triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn được chú trọng và phát huy mạnh mẽ. Số liệu về giá trị các hợp đồng triển khai kỹ thuật tăng dần hàng năm, từ  5 tỷ năm 2000 đã lên 18 tỷ đồng năm 2010.

 

Tuy vậy, các công trình đăng tải trên các tạp chí quốc tế vẫn còn rất khiêm tốn. Hàng năm chỉ có khoảng từ 1-2 bài báo lọt vào hệ thống ISI (Institute of Science Information của Hoa Kỳ) có chỉ số IF (Impact factor), 1-2 bài đăng trên tạp chí nước ngoài; những công trình nghiên cứu chủ yếu được công bố trên các tạp chí trong nước như tạp chí Hóa học, tạp chí phân tích Hóa Lý và Sinh học, tạp chí Dược học, tạp chí Sinh học, v.v.. và trên các Tuyển tập của các Hội nghị, Hội thảo quốc tế (Số lượng bình quân khoảng  20 bài/năm).

 

- Giai đoạn 2011-2017: Việc triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn vẫn được chú trọng; đặc biệt là hướng nghiên cứu tính toán neutron và thủy nhiệt lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt để chủ động trong việc chuyển đổi nhiên liệu từ độ giàu cao xuống độ giàu thấp; hướng nghiên cứu và điều chế các đồng vị và dược chất phóng xạ trên lò phản ứng phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh cũng được quan tâm hơn. Hai đề tài nhà nước về hướng này (Điều chế P-32 và Lu-177 trong điều trị giảm đau di căn xương, Tc-99m dùng trong chẩn đoán bằng hình ảnh các cơ quan nội tạng trong cơ thể người, đánh dấu đồng vị phóng xạ Tc-99m với kháng thể NCA90 để chẩn đoán bệnh viêm và nhiễm trùng; các dược chất đánh dấu dùng trong điều trị ung thư máu, v.v) đã được nghiệm thu đạt loại suất sắc và đang tiếp tục nghiên cứu trong điều trị lâm sàng. Đề tài nhà nước trong chương trình KC-05 về nghiên cứu xác định cấu trúc hạt nhân cũng được nghiệm thu đạt loại suất sắc. Nhiều đề tài cấp bộ KH&CN, đề tài cấp tỉnh và đề tài cấp cơ sở được thực hiện có chất lượng, hiệu quả khá tốt.

 

Điều đáng ghi nhận là từ năm 2011 đến nay, số lượng các công trình đăng tải trên các tạp chí quốc tế tăng dần hàng năm (năm 2011: 4 ; năm 2012: 5, năm 2013: 5; năm 2014: 6; năm 2015: 6; năm 2016: 15, năm 2017: 8 (tính đến tháng 6-2017); các công trình lọt vào hệ thống ISI có chỉ số IF cao cũng tăng dần; đáng chú ý nhất là năm 2016, trong số 15 bài báo quốc tế có tới 10 bài trong hệ thống ISI, có chỉ số IF khá và 5 bài thuộc hệ thống Scopus (Hà Lan). Sáu tháng đầu năm 2017 đã có tới 8 bài đều nằm trong hệ thống ISI có chỉ số IF cao hơn năm 2016. Các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học trong nước vẫn được duy trì ở mức 15 bài/năm.

 

 Có được sự khởi sắc này là do 3 nguyên nhân chủ yếu; cụ thể là:

 

- Trong suốt thời gian từ 2011-2017, Ban lãnh đạo Viện đã nhận thấy sự cần thiết phải thực hiện đồng bộ hai nhiệm vụ Nghiên cứu và Triển khai. Trong nghiên cứu khoa học phải kết hợp chặt chẽ giữa kết quả nghiên cứu đạt được và công bố các kết quả trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Việc công bố công trình nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế; đặc biệt là trên các tạp chí quốc tế thuộc hệ thống ISI là sự ghi nhận của cộng đồng các nhà khoa học trên thế giới.  

 

- Các cán bộ khoa học đã đầu tư thời gian thích đáng để viết và gửi đăng những công trình có đủ tầm trên các tạp chí quốc tế mặc dù trước đó các kết quả nghiên cứu là khá nhiều, nhưng chưa vượt qua được sự mặc cảm và thiếu tự tin.

 

- Các cán bộ trẻ được tiếp cận với nguồn tri thức được cập nhật thường xuyên, được đào tạo tiếng Anh bài bản hơn, lại được các đàn anh giúp đỡ nên khá chủ động trong nghiên cứu và viết bài gửi đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước, mặc dù vẫn biết gửi đăng lần thứ nhất là rất vất vả, khó khăn.     Tuy vậy, muốn duy trì và phát huy được kết quả trên ngày một tốt hơn, cần thực hiện một số vấn đề sau:

 

1.     Về phía các cơ quan quản lý nhà nước: Phải tạo sức ép công việc lên các nhà khoa học. Không có lý do gì khi một nghiên cứu sinh không được hỗ trợ kinh phí trong nghiên cứu mà họ vẫn có những công trình được đăng tải trên các tạp chí quốc tế trong hệ thống ISI, có chỉ số IF cao; trong khi, các nhà khoa học thực hiện đề tài nhà nước nhiều tỷ đồng hay đề tài cấp bộ cũng xấp xỉ một tỷ đồng lại không có công trình nào được đăng tải? Lãnh đạo các đơn vị trực tiếp nghiên cứu; đặc biệt là người có học vị tiến sĩ, trong hai năm phải có ít nhất một bài báo đăng tài trên tạp chí quốc tế hoặc ít nhất hai bài báo đăng trên tạp chí trong nước được tính 1 điểm trong hệ thống tạp chí được công bố để xem xét công nhận học hàm giáo sư và phó giáo sư. Trong thuyết minh đề tài từ cấp Bộ trở lên cũng cần yêu cầu sản phẩm có bài báo công bố quốc tế thuộc hệ thống ISI.

 

Cần có phần thưởng thích đáng cho những công bố quốc tế thuộc hệ thống ISI. Cũng cần có chính sách ưu tiên, khuyến khích cán bộ trẻ trong việc xét duyệt đề tài cũng như việc đãi ngộ khi đã có công trình công bố quốc tế. Có như vậy mới tạo động lực, sự phấn đấu lành mạnh trong đội ngũ những người làm khoa học.

 

 

Tác giả bài viết: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Tuấn

Nguồn tin: Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt

Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn